Phương pháp hỗ trợ điều trị Ung thư Máu

Phương pháp hỗ trợ điều trị Ung thư Máu

04, Tháng Tám, 2016

PHƯƠNG PHÁP PHÒNG VÀ HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ MÁU

Ung thư tế bào Bạch cầu

 

I. MỞ ĐẦU

Bệnh ung thư, có thể cứ nhắc đến nó là làm người ta có cảm giác sợ hãi. Bình thường thì chúng ta cứ sống vô tư không phải lo nghĩ gì đến căn bệnh quái ác đó, nhưng nếu chẳng may căn bệnh đó xuất hiện thì thật là phiền phức. Vậy chúng ta có nên tìm hiểu xem nguyên nhân gì gây bệnh, cách phòng nó như thế nào, cách điều trị ra sao. Sau khi tìm hiểu kỹ rồi tôi thiết nghĩ các bạn sẽ không còn sợ hãi nữa. Sau đây chúng ta cùng bớt chút thời gian để tìm hiểu về bệnh ung thư.

Ở Việt Nam, bệnh Ung thư và bệnh tim mạch là bệnh nguy hiểm nhất và đang là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở các đô thị lớn hiện nay, đặc biệt là các vùng bị ô nhiễm nặng. Theo thống kê của Bệnh viện K, mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 ca mắc ung thư mới và có khoảng 75.000 ca tử vong.

Bệnh Ung thư là căn bệnh của tế bào. Cơ thể con người mỗi ngày có hàng tỉ tế bào mới được sinh ra để thay thế tế bào cũ già cỗi chết đi. Nhưng do các quá trình sinh hóa làm rối loạn sự phân chia tế bào mới đã tạo ra các tế bào đột biến. Khi cơ thể người khỏe mạnh thì các tế bào đột biến này bị sức đề kháng của cơ thể tiêu diệt, nhưng khi cơ thể bị suy yếu thì lập tức các tế bào đột biến này không còn sự kiềm chế nữa và sinh sôi nảy nở rất nhanh không có sự kiểm soát. Sự phát triển vô tổ chức này dẫn tới hình thành các khối u ở các bộ phận, sau đó nó sẽ di căn ra các bộ phận khác gây nên sự đau đớn rất mạnh cho người bệnh. Các bộ phận cơ thể của người bệnh bị phá hủy và sẽ chết. Vậy bệnh ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, trong đó các tế bào bị biến đổi, tăng sinh vô hạn không chịu sự kiểm soát của cơ thể.

Bệnh ung thư không phải là không chữa được, nếu biết phòng sớm và chữa trị đúng cách thì vẫn có thể khỏi được và duy trì sự sống lâu dài. Người mắc ung thư không nên có tâm lý bi quan về bệnh này mà phải luôn tin tưởng, lạc quan vào cuộc sống, quyết tâm chống lại bệnh tật.

 

II. NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ MÁU

Nguyên nhân gây ung thư hay nói cách khác nguyên nhân gây nên sự đột biến và phát triển mất kiểm soát của các tế bào ung thư, tóm lại có các nguyên nhân sau:

1. Nhóm Bức xạ

a) Bức xạ ion hóa

Bức xạ ion hóa là tia phóng xạ phát ra từ các chất phóng xạ tự nhiên hoặc các nguồn phóng xạ dùng trong khoa học, y học có khả năng ion hóa vật chất. Các cơ quan dễ bị ung thư do ion hóa là ung thư tuyến giáp, ung thư phổi, ung thư máu, ung thư tủy xương. Các nguồn bức xạ ion trong tự nhiên gồm các nguyên tố phóng xạ, hậu quả của các sự cố hạt nhân. Các nguồn bức xạ ion nhân tạo gồm có máy chụp X quang, các lò phản ứng hạt nhân, máy gia tốc hạt.

Dẫn chứng là sau vụ nổ bom hạt nhân tại Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản, tỉ lệ người mắc ung thư máu tăng lên ở 2 thành phố đó và còn bị di chứng sau nhiều năm. Ở những hòn đảo mà Mỹ thử bom hạt nhân, các ngư dân cũng bị mắc ung thư máu. Hàm lượng ion Canxi trong máu giảm xuống chứng tỏ độ axit trong máu của người dân tăng lên, đồng nghĩa là nguy cơ mắc ung thư cao hơn.

b) Bức xạ cực tím

Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời chủ yếu gây ung thư da. Cường độ chiếu sáng của mặt trời mạnh nhất trong mùa hè từ 11 giờ sáng đến 15 giờ chiều. Chính vì vậy phải dùng các vật bảo vệ như mũ, áo dài tay.

2. Nhóm các chất hóa học và môi trường

a) Thuốc lá

Trong khói thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hóa chất, trong đó hơn 200 loại có hại cho sức khỏe con người. Hút mỗi điếu thuốc lá làm giảm tuổi thọ khoảng 5,5 phút. Thuốc lá là nguyên nhân khoảng 30% tổng số các trường hợp ung thư, trong đó chủ yếu là ung thư phổi, ung thư hạ họng thanh quản, ung thư thực quản, ung thư cổ tử cung, ung thư tụy, ung thư đường tiết niệu. Riêng ung thư phổi thì thuốc lá là nguyên nhân của 90% trường hợp.

b) Chế độ ăn và ô nhiễm thực phẩm

Dưa muối mà đặc biệt là dưa khú có hàm lượng nitrit rất cao. Nitrit sẽ tác dụng với amin bậc 2 tạo thành hợp chất nitrosamin, đây là chất gây ung thư mạnh. Vì thế không nên ăn dưa khú với các thức ăn giàu đạm.

Benzopyrene được tạo ra khi thịt được nướng bằng than hoặc xông khói, nó cũng được tạo ra khi rán thức ăn bằng dầu/mỡ đã sử dụng. Đây cũng là chất gây ung thư mạnh trên thực nghiệm. Vì vậy nên hạn chế dùng thịt nướng, thịt hun khói hay đồ chiên rán.

Chế độ ăn nhiều chất béo động vật gây tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư đại trực tràng, trái lại chế độ ăn nhiều rau xanh, hoa quả và nhiều chất xơ sẽ làm giảm nguy cơ các ung thư này.

Chế độ ăn uống thiếu chất trong thời gian dài cũng làm cho cơ thể bị suy giảm sức đề kháng, là nguyên nhân dẫn đến khoảng 90% bệnh tật. Ví dụ:

+ Thiếu Canxi có thể dẫn tới 147 loại bệnh khác nhau trong đó có bệnh  thoái hóa xương khớp, trẻ em còi xương chậm lớn.

+ Thiếu Kẽm và vitamin E dẫn tới yếu sinh lý, suy giảm chức năng sinh sản.

+ Thiếu Crom dẫn tới bệnh tiểu đường

+ Thiếu Selen làm tăng nguy cơ bị bệnh tim.

+ Thiếu Sắt dẫn tới thiếu máu, phụ nữ mang thai dễ bị thai lưu, sảy thai.

+ Thiếu axit Folic dẫn tới thiếu máu, trẻ sơ sinh dễ bị mắc bệnh tim bẩm sinh.

Các loại thực phẩm hiện nay được nuôi trồng trong môi trường không sạch, sử dụng quá nhiều thuốc sâu, thuốc diệt cỏ, phân đạm hóa học làm dư lượng hóa chất quá cao trong thực phẩm. Các sản phẩm vật nuôi thì lạm dụng các chất hocmon tăng trưởng, chất kháng sinh, các chất tạo nạc. Các thức ăn chế biến sẵn lạm dụng các hóa chất tạo màu, chất bảo quản, phụ gia. Tóm lại, nguồn thức ăn của chúng ta đang ẩn chứa rất nhiều các chất độc hại nguy hiểm.

c) Ô nhiễm môi trường

Các môi trường chủ yếu mà con người buộc phải tiếp xúc đó là không khí, nước uống. Ô nhiễm khói bụi do các phương tiện giao thông, khói bụi công nghiệp. Nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt chứa nhiều hóa chất độc hại, kim loại nặng, vi sinh vật có hại với hàm lượng cao.

3. Các nguyên nhân bên trong

a) Di truyền

Nguyên nhân này chỉ ra một tỉ lệ nhất định số người mắc ung thư là do gen di truyền của gia đình đã có các gen đột biến gây ung thư. Tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân mắc ung thư do gen là không lớn mà chủ yếu từ các nguyên nhân bên ngoài tác động và cơ thể người.

4. Căng thẳng thần kinh triền miên

Căng thẳng thần kinh là một trạng thái bất lợi cho cơ thể, làm cơ thể bị suy giảm sức đề kháng rất mạnh. Các dấu hiệu của căng thẳng thần kinh gồm:

- Đau đầu, mất ngủ thường xuyên, ngủ không sâu giấc.

- Áp lực công việc, học tập, thường xuyên lo lắng, sợ hãi.

- Mâu thuẫn tình cảm, uất hận, buồn bã, cáu giận.

Stress trầm trọng và kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi trùng và làm tăng nguy cơ tử vong.

Uất hận, buồn bã, nóng giận làm khí huyết ngưng trệ, tân dịch kết cứng làm tích tụ dịch đàm trong cơ thể, lâu dần biến thành các khối u, các khối này lâu dần biến chứng thành khối u ác tính là ung thư.

Đây không phải là nguyên nhân trực tiếp nhưng là nguyên nhân gián tiếp, bởi vì khi sức đề kháng suy giảm thì lập tức các tế bào đột biến có cơ hội phát triển mạnh hơn, tấn công dễ dàng vào các tổ chức yếu nhất của cơ thể hình thành các khối u.

Nguyên nhân của Ung thư máu đến nay các nhà khoa học vẫn chưa có giải thích cụ thể, tuy nhiên độ tuổi của ung thư máu đang giảm dần đặc biệt là trẻ em. 

III. MỘT SỐ DẤU HIỆU BỆNH UNG THƯ MÁU

1. Các dấu hiệu cảnh báo ung thư

Ung thư máu có thể sản xuất một loạt các triệu chứng, hoặc không rõ nét.

Triệu chứng thường gặp của bệnh ung thư máu:

- Đau bụng, đặc biệt là ở vùng bụng trên.

- Gãy xương (tự phát hoặc do chấn thương).

- Dễ chảy máu hoặc bầm tím.

- Gan to, lách to, hạch to.

- Mệt mỏi, sốt và ớn lạnh.

- Nhiễm trùng thường xuyên, đi tiểu thường xuyên.

- Buồn nôn, đổ mồ hôi đêm, giảm cân không rõ nguyên nhân.

Nên đi xét nghiệp để chẩn đoán sớm, sẽ có biện pháp điều trị hiệu quả hơn nếu để quá muộn.

2. Các dạng của ung thư máu

Có ba nhóm chính của ung thư máu gồm bệnh bạch cầu, ung thư hạch và u tủy.

Bệnh bạch cầu

Bệnh bạch cầu ảnh hưởng đến các tế bào máu trắng. Đây là tế bào có chức năng chống nhiễm trùng quan trọng trong hệ thống miễn dịch. Bệnh phổ biến ở người lớn hơn trẻ em. Tuy nhiên, 1/3 số bệnh ung thư ở trẻ em dưới 14 tuổi là bệnh bạch cầu.

Bệnh bạch cầu cấp tính xảy ra đột ngột, tiến triển nhanh chóng và cần phải được điều trị khẩn cấp. Bệnh bạch cầu cấp tính có nghĩa là cơ thể đang sản xuất một số lượng lớn các tế bào máu trắng chưa trưởng thành "làm tắc nghẽn" tủy xương và ngăn chặn tủy xương sản xuất các tế bào máu khác cần thiết để có một hệ thống miễn dịch cân bằng và dòng máu khỏe mạnh.

Bệnh bạch cầu mãn tính phát triển từ từ và có nghĩa là cơ thể đang sản xuất một số lượng lớn các tế bào máu trắng đang hoạt động bình thường. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ". Đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết.

Lymphoma

Lymphoma là một loại ung thư máu có ảnh hưởng đến hệ bạch huyết. Hệ bạch huyết là một phần quan trọng của hệ thống miễn dịch, giúp bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng và bệnh tật.

Nam và nữ đều có thể bị ung thư hạch. Lymphoma cũng là loại phổ biến thứ ba của bệnh ung thư ở trẻ em. Những người có HIV tăng gấp đôi nguy cơ phát triển ung thư hạch hơn những người không có HIV.

Khi có u lympho nghĩa là cơ thể sản sinh quá nhiều tế bào lympho một cách vô tổ chức và các tế bào lympho này cũng tồn tại lâu hơn. Tình trạng quá tải này làm tổn hại hệ thống miễn dịch. Lymphoma có thể phát triển trong nhiều bộ phận của cơ thể, bao gồm cả hạch bạch huyết, tủy xương, máu, lá lách và các cơ quan khác.

Đa u tủy

Đa u tủy là một bệnh ung thư máu của các tế bào plasma. Tế bào plasma được tìm thấy trong tủy xương và tạo ra các kháng thể giúp chống lại nhiễm trùng. Đa u tủy liên quan hơn với tuổi tác. Hầu hết các trường hợp xảy ra ở những người trên 67 tuổi. Nó cũng phổ biến hơn ở nam giới hơn nữ giới.

Trong đa u tủy số lượng lớn bất thường của các tế bào plasma bất thường tụ tập trong tủy xương và ngăn chặn nó sản xuất một phần quan trọng của hệ thống miễn dịch.

 

IV. PHƯƠNG PHÁP PHÒNG BỆNH UNG THƯ MÁU

Đối với từng loại nguyên nhân sẽ có cách phòng chống khác nhau nhưng về nguyên lý cơ bản là:

- Hạn chế độc tố và đào thải độc tố

- Bổ sung cân bằng dinh dưỡng

- Chống oxy hóa và các gốc tự do

- Tăng cường sức đề kháng

- Chống căng thẳng thần kinh

1. Hạn chế độc tố và đào thải độc tố

Như phân tích ở trên, cơ thể con người liên tục bị nhiễm độc từ bên ngoài, đồng thời chính trong quá trình hoạt động cơ thể cũng tự sản sinh ra các chất độc hại. Quá trình phát triển của tế bào ung thư cũng sản sinh ra các chất độc nguy hiểm, như ở phần III đã phân tích. Chính vì vậy việc đầu tiên là phải làm sạch từng tế bào của cơ thể bằng cách đào thải các độc tố ra ngoài. Nếu chúng ta dùng thực phẩm không sạch, hít không khí bị ô nhiễm, uống nước có nhiễm nhiều tạp chất, chúng ta không tránh khỏi nó nhưng chúng ta biết cách hạn chế nó và đào thải nó ra ngoài.

Hạn chế các nguồn độc tố gồm:

- Hạn chế hút thuốc lá hoặc hít phải khói thuốc thụ động.

- Dùng các nguồn thực phẩm sạch.

- Sử dụng nguồn nước đảm bảo.

- Hạn chế các nguồn khói bụi, ô nhiễm không khí.

- Có thói quen sinh hoạt hợp lý, hạn chế rượu bia, kiểm soát cân nặng.

Đào thải độc tố gồm các cách sau:

Có rất nhiều loại thảo dược thiên nhiên giúp con người đào thải độc tố hiệu quả. Ví dụ cây móng mèo ở Nam Mỹ, các loại tảo biển. Ở Việt Nam có nhiều loại cây như cây Diệp hạ châu, cây Kim ngân, Bồ công anh, cây Giảo cổ lam, cây Xạ đen, cây Bán chỉ liên, cây Bạch hoa xà, cây Trinh nữ hoàng cung .v.v. Sử dụng các loại thảo dược này thường xuyên với liều lượng nhất định sẽ giúp cơ thể thanh lọc các chất độc tố nhanh hơn, mạnh hơn.

2. Bổ sung cân bằng dinh dưỡng

Tại sao lại cần bổ sung cân bằng dinh dưỡng? Bởi lẽ cơ thể con người là một cỗ máy sinh học, nó cần nguyên liệu để sống và làm việc một cách hoàn hảo. Con người cần hơn 90 loại vitamin, axit amin và khoáng chất để duy trì sự hoạt động bình thường, do vậy nếu thiếu đi các chất thiết yếu này thì cơ thể sẽ dần dần bị rối loạn trao đổi chất, dẫn tới suy yếu và bệnh tật. Bổ sung dinh dưỡng làm cho các quá trình trao đổi chất trong cơ thể được vận hành bình thường, tăng cường sức đề kháng, hạn chế các nguy cơ bệnh tật do thiếu chất.

Các hãng thực phẩm chức năng hiện nay đều đã nghiên cứu và đưa ra các công thức bổ sung dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng với giá cả rất hợp lý. Các bạn muốn biết rõ hơn sự thiếu chất tác động như thế nào đến sức khỏe và bệnh tật của con người, xin hãy tìm hiểu tác phẩm “Sự trung thực của xác chết” của Tiến sĩ y học Walloc người Mỹ, đạt giải Nobel về y học về công trình nghiên cứu nguyên nhân bệnh tật của con người do thiếu chất. Nhiều người cho rằng dinh dưỡng không phải là thuốc nên không có tác dụng chữa bệnh, nhưng nếu thiếu nó sẽ gây ra bệnh, vậy thì có nên dùng liệu pháp về dinh dưỡng không?

3. Chống oxy hóa và các gốc tự do

Các chất oxy hóa và các gốc tự do tấn công vào tế bào làm sai lệch mã gen, làm tế bào bị già nhanh và yếu đi. Vậy nếu muốn tế bào không bị đột biến thành tế bào ung thư thì phải hạn chế các gốc tự do và các chất oxy hóa. Chống gốc tự do sẽ làm giảm nguy cơ gây đột biến gen ở tế bào, giúp tế bào trẻ lâu. Các chất chống oxy hóa và gốc tự do rất đa dạng và phong phú, có thể kể đến các nhóm vitamin A, C, E, các chất chiết suất từ vỏ và hạt nho, cây thông đỏ, các loại tảo biển, tinh chất curcumin chiết suất từ nghệ vàng, khoáng chất như Kẽm và Selen. Tóm lại trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm giúp chống oxy hóa và gốc tự do.

4. Tăng cường sức đề kháng

Có thể so sánh sức đề kháng của cơ thể giống như một chiếc áo giáp để cơ thể tự bảo vệ. Lấy ví dụ đơn giản như sau: Gặp thời tiết bất lợi, người có sức đề kháng tốt sẽ không cảm thấy gì hoặc chỉ cảm thấy hơi mệt mỏi một chút. Người có sức đề kháng kém sẽ dễ mắc các bệnh như đau đầu, sổ mũi, cảm cúm, đau nhức chân tay.v.v. Đó là biểu hiện bên ngoài dễ nhận thấy, còn biểu hiện bên trong thì khi sức đề kháng kém, các tế bào đột biến có cơ hội phát triển nhanh hơn và ít bị tiêu diệt bởi hệ thống phòng vệ, từ đó ngày càng tích lũy những ổ gây bệnh nguy hiểm. Đối với các nguyên nhân do virus như viêm gan B, virus gây ung thư cổ thư cung, hiện nay đã có vacxin để phòng. Chính vì vậy tăng cường sức đề kháng là biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa và điều trị bệnh ung thư.

Các chất bổ sung hệ thống miễn dịch (IP6, Flor-ssence, Essiac, chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất, các chất EPA...) sẽ kích hoạt các tế bào miễn dịch phá hủy các tế bào ung thư. Các chất bổ sung khác như vitamin E được biết như là chất chống lại quá trình chết hoặc chết lập trình của tế bào - phương pháp đào thải các tế bào độc hại hoặc không cần thiết của cơ thể.

Có nhiều loại thảo dược giúp tăng cường sức đề kháng như: Xạ đen, linh chi, cây thông biển, giảo cổ lam .v.v. Gần đây người ta còn chiết suất một hợp chất gọi là Beta Glucan có tác dụng tăng cường sức đề kháng rất tốt.

5. Chống căng thẳng thần kinh

Căng thẳng thần kinh là nguyên nhân gián tiếp gây ra các bệnh trong đó có bệnh ung thư. Hậu quả của căng thẳng thần kinh làm suy giảm sức đề kháng, gây rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Giảm bớt căng thẳng thần kinh sẽ giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng, giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh nguy hiểm, phục hồi nhanh trong và sau quá trình điều trị bệnh. Liệu pháp chống căng thẳng thần kinh gồm có:

- Chế độ sinh hoạt hợp lý, hạn chế các áp lực lên hệ thần kinh trung ương, không nên cáu giận, lo lắng, buồn bã, nên vui vẻ lạc quan.

- Luyện tập thể thao đều đặn trong đó Yoga là một biện pháp tốt.

- Sử dụng các loại thảo dược giúp chống căng thẳng thần kinh giúp an thần nhẹ nhàng, tạo giấc ngủ sinh lý.

Tóm lại, nếu chúng ta sử dụng các phương pháp phòng chống nêu trên thì không những phòng các bệnh khác mà ung thư sẽ không có cơ hội phát triển. Tuổi thọ, sắc đẹp sẽ được kéo dài.

 

V. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ MÁU

1. Phương pháp theo Tây y

1.1. Phẫu thuật cấy ghép tủy

Bệnh viện sử dụng việc cấy ghép tủy xương của những người thân có cùng huyết thống. Việc cấy ghép tế bào gốc cho phép cơ thể của bệnh nhân sản xuất các tế bào máu khỏe mạnh mới. Các tế bào gốc có thể đến từ người cho. Bệnh nhân được ghép tế bào gốc phải được giám sát để đảm bảo rằng cơ thể của họ sẽ không thải trừ chống lại các tế bào gốc mới được ghép vào cơ thể.

1.2. Hóa trị

Hóa trị là sử dụng hóa chất đưa vào cơ thể người nhằm mục đích phong tỏa tế bào ung thư, cô lập và tiêu diệt nó. Mỗi đợt hóa trị chỉ tiêu diệt một tỉ lệ nhất định các tế bào ung thư, nếu khối u quá to thì hóa trị sẽ không hiệu quả bởi vì tốc độ sản sinh tế bào ung thư mới quá nhanh so với số lượng bị diệt. Phương pháp này có tác dụng phụ là đồng thời trong quá trình diệt tế bào ung thư thì tế bào khỏe cũng bị ảnh hưởng, bởi vì hóa chất đưa vào cơ thể là một loại chất độc đối với tế bào khỏe. Chính vì thế trong quá trình hóa trị, sức đề kháng đã bị giảm sút, đồng thời các mô lành cũng bị ảnh hưởng. Hoá trị làm tổn thương các tế bào khoẻ mạnh như tuỷ xương, dạ dày, ruột.

Tác dụng phụ trước mắt: nôn và buồn nôn; giảm các tế bào tạo huyết như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu; rối loạn tiêu hoá gây chán ăn, tiêu chảy hoặc táo bón; trên hệ lông tóc móng gây rụng tóc, sạm da…; trên hệ thần kinh gây tê đầu chi, giảm thính lực; phụ nữ rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, .v.v.

Tác dụng phụ lâu dài: vô sinh, ung thư thứ phát, đột biến di truyền cho thế hệ sau, suy tim, xơ phổi, .v.v.

Người bệnh sẽ bị suy giảm sức khỏe khá nhiều khi sử dụng phương pháp hóa trị. Người bệnh phải chuẩn bị tinh thần trước khi sử dụng hóa trị liệu.

1.3. Xạ trị

Xạ trị là sử dụng chùm năng lượng cao (tia Gama, tia X, tia β, các tia phóng xạ dạng hạt) chiếu vào khối u để điều trị ung thư, làm giảm kích thước khối u.

Phương pháp này cũng gây tác dụng phụ lớn và nhiều khi không tiêu diệt hết được khối u mà lại ảnh hưởng đến các tế bào lành. Cụ thể là: Lượng bạch cầu và hồng cầu giảm, vùng chiếu tia bị tổn thương.

Tóm lại, Tây y sử dụng tổng hợp các phương pháp trên đã đưa lại kết quả chữa trị khá tốt, nếu phát hiện càng sớm thì tỉ lệ chữa khỏi càng cao. Bởi lẽ khi phát hiện sớm thì sức tấn công của tế bào ung thư còn yếu, trong khi đó sức đề kháng của cơ thể còn khỏe. Tuy nhiên người bệnh sẽ bị hao tổn sức khỏe và giảm tuổi thọ do phải phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Khi cơ thể có quá nhiều chất độc từ hóa trị và xạ trị làm hệ thống miễn dịch bị tổn hại hoặc bị phá hủy, vì vậy con người không thể chống chọi với các sự nhiễm trùng và biến chứng.

Một thực tế cho thấy, tỉ lệ thành công trong điều trị ung thư máu bằng Tây y khoảng 10%, tỉ lệ tái phát rất lớn sau 3 – 5 năm.

Vậy làm thế nào để vừa tiêu diệt tế bào ung thư mà tế bào lành không bị tổn thương, làm thế nào để sức đề kháng của cơ thể tăng lên, phương pháp nào vừa an toàn, vừa không có tác dụng phụ, xin mời quý vị hãy nghiên cứu tiếp.

2. Phương pháp dinh dưỡng cân bằng

2.1. Phương pháp thực dưỡng

Tại sao lại sử dụng phương pháp thực dưỡng?

Các loại thực phẩm bệnh nhân ung thư không nên ăn:

- ĐƯỜNG là một loại thực phẩm của bệnh ung thư. Không tiêu thụ đường là cắt bỏ một trong những nguồn quan trọng nhất của các tế bào ung thư. Có sản phẩm thay thế đường như saccharin, nhưng chúng được làm từ Aspartame và rất có hại. Tốt hơn nên thay thế đường bằng mật ong Manuka hay mật đường nhưng với số lượng nhỏ. Muối có chứa một hóa chất phụ gia để xuất hiện màu trắng. Một lựa chọn tốt hơn cho muối trắng là muối biển hoặc các loại muối thực vật.

- SỮA  làm cho cơ thể sản xuất chất nhầy, đặc biệt là trong đường ruột. Tế bào ung thư ăn chất nhầy. Loại bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành, các tế bào ung thư không có gì để ăn, vì vậy nó sẽ chết.

- Các tế bào ung thư trưởng thành trong môi trường axit. Một chế độ ăn uống là THỊT Đỏ có tính axit, tốt nhất là ăn cá, và một chút thịt gà thay vì thịt bò hay thịt heo. Hơn nữa, thịt chứa kháng sinh, hormon và ký sinh trùng, rất có hại, đặc biệt đối với những người mắc bệnh ung thư. Protein thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi nhiều enzym. Thịt không tiêu hóa ở lại và hư hỏng trong cơ thể dẫn tới tạo ra các độc tố nhiều hơn.

Bệnh nhân ung thư nên dùng phương pháp thực dưỡng vì:

Phương pháp được khám phá và phát triển bởi giáo sư người Nhật có tên Sakurazawa Nyoichi (George Ohsawa). Nhà y triết lỗi lạc đề xướng và truyền bá từ đầu thế kỷ 20 và đã giúp nhiều người tự chữa lành bệnh kể cả những bệnh “nan y” và sống được hạnh phúc.

Ăn uống theo PP trường sinh OHSAWA rất giản dị, chúng ta chỉ cần hạt gạo lức, muối mè, một chút rau cải không dùng phân hoá học và thuốc trừ sâu và nước tương thiên nhiên (gạo lứt chiếm 60% trở lên). Khi ta ăn phải nhai kỹ, ăn ít và uống ít nước (nếu làm việc tay chân nhiều thì ta mới ăn nhiều). 

Ăn gạo lứt có các ưu điểm sau:

-Đầy đủ chất bổ dưỡng

-Phòng và Chữa được hầu hết các bệnh nan y – không dùng thuốc

-Giản dị trong việc bếp núc

-Thực hành được mọi lúc mọi nơi

Bản chất của phương pháp thực dưỡng là:

- Cân bằng Âm Dương trong cơ thể, mà bản chất là sử dụng các loại thức ăn có độ kiềm cao để nâng cao độ pH của cơ thể, từ đó ức chế sự nhân lên của tế bào ung thư.

(Xem kỹ công thức ăn chữa bệnh ở phần phụ lục)

2.2. Bổ sung vitamin và khoáng chất chống oxy hóa, chống suy mòn

Cơ thể cần phải bổ sung đầy đủ các vitamin và khoáng giúp tăng cường hệ miễn dịch, chống oxy hóa và cân bằng quá trình chuyển hóa các chất. Trong đó có các hoạt chất quan trọng để chống oxy hóa, tăng miễn dịch là vitamin A, C, E, khoáng chất Kẽm và Selenium. Thảo dược chống oxy hóa mạnh như Coenzyme Q10, chiết xuất hạt nho, chiết xuất vỏ thông, Resveratrol, chiết xuất trà xanh EGCG.

Bổ sung vitamin D3 cũng rất quan trọng bởi D3 giúp ức chế hình thành mạch máu mới của khối u, kích thích các tế bào lành hoạt động tích cực chống khối u xâm lấn, tăng cường các tế bào miễn dịch.

Ngoài ra để chống lại sự suy mòn do ung thư, người bệnh có thể sử dụng thêm các chế phẩm có chứa EPA (Eicosapentaenoic Acid, một thành phần trong acid béo Omega 3), liều dùng khuyến cáo tối đa tốt nhất là 2.000 mg/ngày. Việc sử dụng EPA có thể thay thế phần nào cho sữa Prosure rất đắt tiền hiện có bán tại các bệnh viện ung bướu. EPA làm giảm chứng suy mòn do ung thư, giảm các chứng viêm, tái tạo lại các khối cơ xương, tăng sức đề kháng cho bệnh nhân đang điều trị ung thư.

2.3. Cân bằng độ pH cơ thể sử dụng nước kiềm:

Sử dụng nước kiềm để cân bằng độ pH cơ thể. Nước kiềm chứa nhiều gốc OH- sẽ giúp trung hòa axit, cân bằng độ pH cơ thể. Đồng thời nước kiềm cũng cung cấp nhiều oxy hơn cho tế bào, từ đó các tế bào ung thư không có môi trường lý tưởng để phát triển, ngược lại tế bào khỏe mạnh sẽ được phục hồi nhờ cung cấp đủ oxy. Duy trì độ pH cơ thể ở mức 7,2 - 7,4 là tốt nhất. Nước kiềm có thể được tạo ra nhờ máy tạo nước kiềm hoặc bình tạo nước kiềm.

2.4. Cách kiểm tra độ pH cơ thể sử dụng giấy quỳ tím:

Lấy một miếng giấy quỳ tím nhấm ướt bằng nước bọt trong miệng, để sau khoảng 1 phút, sau đó so sánh màu sắc của giấy quỳ với các màu chỉ độ pH ở bảng đo. Màu của giấy quỳ giống mảng nào thì độ pH ở đó. Độ pH của cơ thể nên duy trì ở mức trên 7 là tốt. Tiếp theo lấy một miếng giấy quỳ tím nhúng vào nước tiểu để đo độ pH, sau đó so với màu chỉ độ pH ở bảng đo. Hàng ngày nên theo dõi để điều chỉnh chế độ ăn và dùng thuốc.

 

3. Đào thải độc tố làm sạch ở cấp độ tế bào - Bộ 3 thải độc

Nhập khẩu và phân phối: Công ty TNHH Siberian Health Việt Nam.

Tiêu chuẩn: 7996-7997-7998/2012/YT-CNTC

RENAISSANCE TRIPLE SET - là một phương thức làm sạch cơ thể hoàn toàn mới ở cấp độ tế bào. Khác biệt với phần lớn các sản phẩm có tác dụng làm sạch cơ thể hiện có, RENAISSANCE TRIPLE SET  được hình thành từ ba công thức với thành phần bổ sung cho nhau, các công thức này áp dụng hiệu quả cơ chế làm sạch môi trường bên trong cơ thể, bảo vệ cơ thể chống lại tổn thương ô-xy hóa ADN, protein và chất béo.

 RENAISSANCE TRIPLE SET Formula 1 - hợp chất các thảo mộc với tác dụng hỗ trợ bảo vệ ngoài tế bào, làm sạch tự nhiên đường ruột, thận, phổi và hệ miễn dịch.

 RENAISSANCE TRIPLE SET Formula 2 giúp làm sạch môi trường bên trong tế bào, giúp chống oxy hóa, hỗ trợ chức năng khử độc ở đường tiêu hóa, tiết niệu và hô hấp, tăng cường bảo vệ tế bào.

 RENAISSANCE TRIPLE SET Formula 3 - là tổ hợp phức hợp các chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ động vật, thực vật và khoáng chất. Các hoạt chất thiên nhiên độc đáo này bảo vệ tế bào chống lại hiện tượng ô-xy hóa và các hóa chất độc hại  khác.

Cách dùng:

Trong mỗi hộp Renaissance Triple Set có 3 lọ riêng biệt 1, 2, 3:

Lọ 1: 2 viên/ngày vào buổi sáng

Lọ 2: 2 viên/ngày vào buổi tối

Lọ 3: 2 viên/ngày, 1 viên sáng, 1 viên tối

Thành phần:

ENAISSANCE TRIPLE SET Formula 1 - Chiết xuất cây cúc dại (Echinacea purpurea L.); Chiết xuất phan tả diệp lá nhọn (Cassia acutifolia); Cây sài hồ núi Altai (Comarum palustre); Rễ cây rau dền Siberia (Hedysarum sibiricum); Chiết xuất cây ban âu (Hypericum perforatum L.); Lá cây nho gấu (Arctostáphylos úva-úrsi); Lá cây việt quất (Vaccinium vitis-idaea); Lá cây phúc bồn tử đen (Ribes nigrum L.); Hoa cúc trường sinh (Helichrysum arenarium); Cây sài hồ Siberia (Bupleurum multinerve); Cây rau đắng (Polygonum aviculare); Rễ cây cam thảo núi Ural (Glycyrrhiza glabra); Rễ cây ngưu bàng núi Altai (Arctium lappa L.); Cỏ ba lá đỏ (Trifolium pratense); Rễ cây địa du hồ Baikal (Sanquisorba officinalis); Hoa cây đoạn (Tilia cordata); Chiết xuất rễ cây mộc hương Altai (Saussurea salicifolia); Hoa cúc ngải vàng (Tanacetum parthenium); Cây mộc tặc (Equisetum arvense); Gelatin.

 RENAISSANCE TRIPLE SET Formula 2 - Chiết xuất từ rau họ cải (Cruciferae); Chiết xuất cây kế Siberia (Salsola collina); Chiết xuất cúc gai (Silybum marianum (L.) Gaertn.); Rễ cây bồ công anh hồ Baikal (Taraxacum officinale); Cây linh sam bạc (Abies sibirica); Chiết xuất trà vùng Kuril (Potentila fruticosa); Lá rau mùi tây (Petroselium fruticosa); Chiết xuất trà xanh (Thea chinensis L.); Gelatin.

 RENAISSANCE TRIPLE SET Formula 3 - Vitamin C; Vitamin А; Vitamin Е; Selen; Kẽm; Đồng; Măng-gan; Lá cây việt quất (Vaccinium myrtillis); Chiết xuất lá cây đào (Prunus persica); Chiết xuất lá cây mâm xôi (Rubus idaeus); Hoa cúc xu xi (Calendula officinalis L.); Cỏ xạ hương (Thymus serpyllum); Quả tầm xuân Siberia (Rosa majalis Herrm.); Chiết xuất từ hạt nho (Vitis Vinifera L.); Chiết xuất từ hạt bưởi (Citrus bioflavonoids); Gelatin.

Tác dụng phụ: Sản phẩm được kiểm định không có tác dụng phụ.

Thận trọng với những người dị ứng với bất kỳ thành phần nào của sản phẩm

Một số tác dụng thải độc khi uống bộ 3 sản phẩm: Những ngày đầu đường ruột có thể thải độc mạnh gây đi ngoài nhiều, thải độc qua phân, nước tiểu, đường mồ hôi. Đó là bình thường, sau một thời gian ngắn sẽ hết. 

 

4. Sử dụng sản phẩm Formula 4 (Novomin)

Nhập khẩu và phân phối: Công ty TNHH Siberian Health Việt Nam.

 

Chống oxy hóa là một phương pháp không thể thiếu để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư. Công thức của Formula 4 cung cấp các dưỡng chất vitamin và hoạt chất sinh học có tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ, hàm lượng cao, giúp nâng cao khả năng chống oxy hóa ngay lập tức cho cơ thể.

Đối với người bình thường muốn phòng bệnh, sử dụng liên tục từ 1 đến 3 tháng sẽ có kết quả rõ ràng. Đối với người đang điều trị ung thư, Formula 4 là liệu pháp không thể thiếu, hiệu quả của Formula 4 đã được kiểm nghiệm qua rất nhiều kết quả sử dụng của các bệnh nhân ung thư, đặc biệt là đối với các bệnh nhân ở Liên bang Nga và các nước Đông Âu.

Thành phần của Formula 4 gồm:

- Taurin 260mg: Taurin là một loại axit amin bán thiết yếu cho cơ thể. Tác dụng của Taurin là đối với bệnh về mắt, Taurin giúp duy trì thị lực bình thường, chống lại bệnh đục thủy tinh thể. Taurin còn giúp giảm cholesterol trong máu, giảm nguy cơ bệnh tim, phòng ngừa thiếu máu cục bộ cũng như loạn nhịp tim. Taurin còn là một chất chống oxy hóa mạnh nên được sử dụng để giảm sự phá hủy của các tế bào tuyến tụy, giúp hỗ trợ bệnh tiểu đường. Taurin còn giúp tăng hiệu suất làm việc của cơ bắp, duy trì sự hoạt động bình thường của cơ tim. Taurin còn hoạt động như một chất chống oxy hóa nội sinh giúp giảm sự tác hại của các độc tố, chống lại tác dụng của các chất độc khác nhau như Chì, Cadimi... Taurine hỗ trợ quá trình chuyển các ion natri, kali, magie vào - ra khỏi tế bào và để ổn định điện tích màng tế bào. Taurine giữ K, Mg trong tế bào trong khi đẩy Na thừa ra khỏi tế bào. Như vây, taurine còn giúp lợi tiểu.

- Vitamin C 180mg: Vitamin C có tác dụng ngăn ngừa bệnh hoại huyết, chống oxy hoá, bảo vệ màng tế bào và tăng cường hệ miễn dịch. Vitamin C làm tăng khả năng diệt khuẩn của bạch cầu, kích thích cơ thể thải độc qua gan. Vitamin C giúp làm giảm bệnh hoại huyết, tăng xuất huyết, xuất huyết phổi, mũi, xuất huyết tử cung, các trường hợp xuất huyết do nhiễm xạ, các bệnh truyền nhiễm, ngộ độc, các bệnh về gan, suy tuyến thượng thận, giúp cơ thể giảm mệt mỏi, nâng cao khả năng chống chịu trong các môi trường độc hại.

- Retinyl acetate 10 mg (trong đó Vitamin A 1,5 mg): Vitamin A có nhiều tác dụng quan trọng như: nó cần cho sự phát triển, phân bào và biệt hoá các biểu mô, có tác dụng chống oxy hoá, tạo điều kiện bảo vệ khỏi ung thư. Khả năng làm tăng sức đề kháng tại chỗ và sức đề kháng chung của cơ thể là một tác dụng quan trọng của vitamin A.

- DL - alpha tocolpheryl accetate 80 mg (trong đó vitamin E 40 mg): Vitamin E dùng để phòng các bệnh ung thư và các bệnh tim do thiếu máu cục bộ, dùng cho các trường hợp loạn dưỡng cơ tim, co thắt mạch ngoại biên. Vitamin E chống nguy cơ xảy thai, rối loạn chức năng tuyến sinh dục, viêm tiền liệt tuyến, các bệnh về gan, một số bệnh về da và vẩy nến.

- A-xít alpha-lipoic 20 mg: là một chất chống oxy hóa mạnh, chất này được dùng trong hỗ trợ điều trị tiểu đường, giảm các triệu chứng xấu của bệnh tiểu đường. Axit alpha lipoic còn có tác dụng phục hồi nồng độ của Vitamin C và E, giúp ngăn ngừa sự tổn thương tế bào trong cơ thể. Nó được dùng để hỗ trợ các bệnh như Alzemer, ung thư, rối loạn nhịp tim, tổn thương võng mạc, tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể, bệnh Wilson.

Tổng quát những người nên sử dụng Formula 4:

- Người đang điều trị và dự phòng ung thư (đang hóa trị và xạ trị, sau phẫu thuật)

- Người muốn chống lão hóa sớm và mong muốn kéo dài tuổi thanh xuân.

- Người có các bệnh về mắt.

- Người có sức đề kháng kém, thiếu hụt các vitamin A, C, E.

Đóng gói: 120 viên/hộp

Cách dùng: Mỗi ngày 1 viên dùng trong bữa ăn. Đối với các trường hợp hỗ trợ điều trị tích cực có thể tăng liều theo chỉ định

 

5. Trà xanh Gold – Green tea Gold:

Hãng sản xuất: Nutrigold - Hoa Kỳ (www.nutrigold.com)

Sản phẩm được sản xuất tại Hoa Kỳ và nhập trực tiếp về Việt Nam

Đóng gói: 180 viên/hộp

Tiêu chuẩn chất lượng: GMP, được FDA Hoa Kỳ chứng nhận

 

 

Công dụng:

- Dự phòng và hỗ trợ điều trị ung thư

- Hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch vành, nhồi máu cơ tim

- Giảm thoái hóa tế bào thần kinh, giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson

- Hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường

- Hỗ trợ giảm cân, tăng cường chuyển hóa năng lượng cơ thể

- Chống oxy hóa, ngăn ngừa lão hóa

- Giảm stress, an thần và thư giãn

 

Những ai nên sử dụng chiết xuất trà xanh Nutrigold:

- Người muốn phòng ngừa ung thư sớm, đang mắc khối u và ung thư, đặc biệt đối với ung thư máu, tuyến tụy, da, phổi, dạ dày, đại tràng, bàng quang, vòm họng.

- Người đang điều trị bệnh tim mạch, tiểu đường

- Người muốn giảm cân nhẹ nhàng và an toàn

- Người có triệu chứng lão hóa sớm, mất trí nhớ (bệnh Parkinson)

- Người bị stress, áp lực cuộc sống và công việc, mệt mỏi, trầm cảm

 

Những ưu thế tuyệt vời khi sử dụng sản phẩm trà xanh gold của hãng Nutrigold - Mỹ:

- Sản phẩm trà xanh gold được chiết xuất với độ tinh khiết rất cao có chứa tới 90% polyphenol, và dưới 1% cafein.

- Số lượng viên 1 hộp là 180 viên, hàm lượng EGCg tới 50% trong 1 viên, nên chỉ cần sử dụng tối đa 2 viên/ngày là có thể thu được kết quả tốt. Thời gian sử dụng 1 hộp tới 3 tháng nên rất kinh tế và tiết kiệm.

- Sản phẩm được khách hàng Mỹ đánh giá rất cao về độ an toàn và chất lượng.

Liều dùng: 1 - 2 viên/ngày, tăng liều lượng nên tham khảo ý kiến chuyên gia.

 

Thành phần 1 viên: 500 mg

Tiêu chuẩn hóa chứa 90% polyphenol, 80% Catechin và 50% EGCG (tối thiểu 250mg EGCg)

 

Công dụng chi tiết như sau:

- Dự phòng và hỗ trợ điều trị ung thư

Trong các nghiên cứu y học hiện đại cho thấy chiết xuất trà xanh (thành phần EGCG) có tác dụng tốt hỗ trợ điều trị ung thư máu, ung thư da, phổi, đường tiêu hóa, bàng quang, tuyến tụy, tuyến tiền liệt.

Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 2004, các nhà nghiên cứu tìm thấy EGCG có thể tiêu diệt tế bào ung thư bạch cầu. Trong tạp chí Journal of Clinical Oncology, một nghiên cứu mới của Mayo Clinic cho thấy EGCG làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân ung thư mắc bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính (CLL). Bệnh nhân được điều trị với liều khác nhau của một chiết xuất EGCG.

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23201840

http://www.viconyteas.com/directory/tea-encyclopedia/EGCG-n-tea.html

http://drhoffman.com/article/egcg-potent-extract-of-green-tea-2/

- Hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch vành, nhồi máu cơ tim

Uống 4 chén trà xanh mỗi ngày làm giảm 31% nồng độ 8-OH-deoxyguanosin, là chất chỉ thị về stress oxy hóa ở người hút thuốc lá, thuốc lào. Uống trà xanh tỷ lệ nghịch với sự phát triển của xơ vữa động mạch vành, tỷ lệ nghịch với tần số nhồi máu cơ tim.

- Giảm thoái hóa tế bào thần kinh, giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson

Trà xanh làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Parkinson (là lợi ích đặc biệt của EGCG). EGCG phòng và chống bệnh Parkinson còn do ức chế COMT (catechol-O-methyl-tranferase) và 6-hydroxydopamin là các chất trung gian gây hư hại đến tế bào thần kinh.

- Hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường

Uống trà xanh mỗi ngày, dùng trong 30 ngày sẽ làm giảm nồng độ gluco trong huyết tương ở người tiểu đường tuýp 2. Trà xanh làm tăng tiêu thụ năng lượng và tăng oxy hóa mỡ. EGCG có thể phòng sự chết tế bào đảo tụy ở người tiểu đường tuýp 1.

- Hỗ trợ giảm cân, tăng cường chuyển hóa năng lượng cơ thể

nghiên cứu cho thấy EGCG có thể thúc đẩy sự trao đổi chất và giúp đốt cháy chất béo. Trong một nghiên cứu Pháp, tỷ lệ trao đổi chất nghỉ ngơi tăng 4 phần trăm sau khi 90mg của EGCG được tiêu thụ ba lần mỗi ngày.

- Chống oxy hóa, ngăn ngừa lão hóa

Nghiên cứu cũng cho thấy chất chống oxy hóa mạnh mẽ này là ít nhất là 100 lần hiệu quả hơn vitamin C trong việc ngăn ngừa thiệt hại oxy hóa trong tế bào và DNA. Nó cũng đã được tìm thấy là 25 lần hiệu quả hơn Vitamin E làm giảm stress oxy hóa. Sử dụng lâu dài có liên quan đến việc giảm bệnh tim, ung thư và tuổi tác khác có liên quan hoặc bị bệnh hiểm nghèo, ngoài việc tăng sự trao đổi chất và đốt cháy chất béo.

- Giảm stress, an thần và thư giãn

Uống trà xanh dùng khi tinh thần mệt mỏi

 

6. Curcumin C3 Complex kết hợp với Bioperin (hoặc Curcumin Novasol):

Hãng sản xuất: Vitabreeze Mỹ (http://www.vitabreeze.com)

Đóng gói: 180 viên/hộp

Sản phẩm được nhập nguyên hộp từ Mỹ, hàng chính hãng

Thành phần: (1 viên)   Curcumin C3® Complex 750 mg kết hợp BioPerine 5mg

(Bisdemethoxy Curcumin (2.5-6.5%), Demethoxy Curcumin (15-25%), Cucumin (70-80%)

 

 

Công dụng:

- Phòng và hỗ trợ điều trị ung thư (trước, trong và sau khi điều trị theo Tây y, giảm tác hại của hóa trị và xạ trị).

- Điều trị các chứng viêm (viêm khớp, viêm loét dạ dày, chứng viêm của bệnh ung thư)

- Giúp các vết thương, vết loét nhanh liền sẹo, làm mờ và giảm vết thâm nám tại sẹo.

- Giảm thiểu nguy cơ mắc khối u do các gốc oxy hóa gây ra.

- Bảo vệ gan, tăng cường chức năng gan mật.

- Phòng và hỗ trợ điều trị bệnh Alzemer

- Giúp hồi phục sức khỏe và sắc đẹp cho phụ nữ sau sinh.

 

Trường hợp nên dùng Curcumin C3 Comlex

- Người muốn phòng ung thư sớm, đang điều trị ung thư, phòng chống ung thư tái phát.

- Người bị viêm loét dạ dày, hành tá tràng

- Người bị bệnh viêm khớp, đau khớp, thoái hóa khớp

- Người đang trong quá trình hồi phục sau mổ, sau chấn thương, đang trong quá trình lành vết thương, vết loét

- Người mắc bệnh viêm gan, gan nhiễm mỡ, xơ gan, nhiễm độc gan.

- Người mắc các bệnh mãn tính như tiểu đường, huyết áp, tim mạch, thoái hóa khớp, thoái hóa thần kinh, bệnh Alzemer

- Phụ nữ sau sinh, phụ nữ muốn làm đẹp và trẻ hóa làn da.

Hướng dẫn sử dụng:

Uống trước ăn 30 phút. Liều dùng bình thường 2 viên/ngày. Bệnh nặng có thể tăng liều. Nếu uống trước khi ăn bị thích ứng thì chuyển uống sau khi ăn 1 giờ.

Những lý do mà bạn nên lựa chọn sản phẩm Curcumin C3 Complex kết hợp với BioPerine:

- Hàm lượng Curcumin trong 1 viên nang là 750mg, vượt trội hơn so với các sản phẩm khác, được chuẩn hóa độ tinh khiết trên 95%.

- Curcumin kết hợp với BioPerine được chiết xuất từ hạt tiêu đen giúp tăng cường độ hấp thu lên tới 20 lần so với Curcumin thường.

- Số lượng 180 viên nang trong 1 hộp sản phẩm cho bạn sử dụng kết quả tốt chỉ với 2 viên/ngày trong 3 tháng, như vậy bạn sẽ tiết kiệm được chi phí. Thông thường các sản phẩm khác chỉ có 30, 60 hoặc 120 viên trong 1 hộp sản phẩm. Chi phí điều trị dưới 11.000 VND/ 1 ngày.

- An toàn và có độ tinh khiết cao, không chứa chất độn, thành phần Sterates hay các thành phần khác.

- Được kiểm định tiêu chuẩn sản xuất GMP, và được chấp nhận lưu hành trên thị trường Mỹ, được người tiêu dùng Mỹ đánh giá cao về hiệu quả sử dụng so với chi phí bỏ ra.

Tóm lại, đây là sản phẩm hội tụ được đầy đủ các yếu tố như hàm lượng 1 viên cao, số lượng viên nhiều hơn, độ hấp thu cao, được sản xuất bởi các hãng có thương hiệu hàng đầu thế giới và chi phí điều trị bình quân 1 ngày thấp nhất, rất phù hợp với mức thu nhập của người Việt Nam. Đây chính là sự lựa chọn thông minh của người có nhu cầu sử dụng Curcumin trong phòng và hỗ trợ điều trị bệnh.

 

Tác dụng chống ung thư:

Các nghiên cứu mới nhất trên thế giới hiện nay chỉ rõ Curcumin có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư đối với các dòng ung thư như: Ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư đại tràng, ung thư vú, ung thư tụy, ung thư phổi, ung thư da, ung thư dạ dày, ung thư tuyến tiền liệt và nhiều loại ung thư khác. Nguồn: http://www.curcuminresearch.org

 

Cơ chế chống ung thư của Curcumin như sau:

- Curcumin chống viêm nhờ ức chế NFkB là yếu tố gây viêm, từ đó ngăn chặn việc phá hủy tế bào do cơ chế viêm gây ra.

- Curcumin làm ngừng phát triển ung thư ở giai đoạn rất sớm và không cho tế bào ung thư nhân lên trước khi phát hiện ra khối u. Curcumin làm tế bào ung thư chết theo chu trình (Apoptosis) mà không có ảnh hưởng tới apoptosis của tế bào lành.

- Curcumin ức chế protein-kinase C (PKC), là enzym đóng vai trò trong ung thư. Ức chế không cho PKC chuyển tín hiệu sẽ làm chậm sự tăng sinh tế bào u (như ung thư tế bào glia, vú, tuyến tiền liệt, da, phổi).

- Curcumin làm ngừng sự tạo tân mạch. Một số enzym giúp khối u tự tạo tân mạch máu để tự nuôi dưỡng (gọi là tân mạch), hiện tượng này khiến khối u xâm lấn được các mô xung quanh và lan truyền. Dùng Curcumin ức chế sự tạo tân mạch. Curcumin phong bế AP-1 (là chất tăng tạo tân mạch), do đó Curcumin ngăn chặn được sự di căn.

- Trong hỗ trợ hóa trị và xạ trị, Curcumin làm giảm tổn thương đường ruột, chống nhiễm độc gan, giảm tổn thương da và vùng bị chiếu tia.

 

Các tác dụng khác của Curcumin

Viêm loét dạ dày, tá tràng: Curcumin có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn H. pylori, chống oxy hóa mạnh, dọn dẹp gốc tự do, tăng bài tiết chất nhầy Mucin trong dịch vị, phục hồi nhanh và tái tạo niêm mạc dạ dày, tá tràng bị tổn thương, giúp giảm triệu chứng nhanh chóng, ngăn ngừa tái phát.

 Làm đẹp và phục hồi sức khỏe cho phụ nữ sau sinh: Curcumin giúp chống viêm, kháng khuẩn, giúp vết mổ vết cắt tầng sinh môn tránh nhiễm trùng, nhanh liền sẹo, kích thích co bóp tử cung, phòng tránh hậu sản. Curcumin giúp giảm cân, giảm mỡ bụng, làm mờ vết rạn da, nám da, bổ máu, nhanh chóng hồi phục sức khỏe, giúp da trở nên hồng hào, tươi trẻ.

Ngăn ngừa tiến triển và hạn chế di căn ung thư: Curcumin là chất hủy diệt tế bào ung thư vào loại mạnh nhất và ngăn chặn không cho hình thành các tế bào ung thư mới mà không làm ảnh hưởng đến các tế bào lành tính bên cạnh. Đây là ưu điểm nổi bật, khắc hẳn với một số thuốc khác diệt tế bào ác tính cũng diệt luôn cả tế bào lành tính, làm cơ thể suy kiệt, chán ăn, rụng tóc, buồn nôn. Thậm chí nhiều bệnh nhân tử vong trước khi bệnh tiến triển tốt. Curcumin ngăn chặn cả 3 giai đoạn phát triển của ung thư: giai đoạn hình thành tế bào, phát triển ung thư và di căn.

 Bệnh viêm khớp mạn tính: Curcumin chuyển hóa được xem như một trong những chất kháng viêm tối ưu và không phản ứng phụ trong chữa trị các chứng viêm khớp, ngăn ngừa và điều trị bệnh viêm khớp, viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp. Curcumin chuyển hóa ức chế mạnh mẽ các enzyme liên quan đến sự khởi phát của quá trình gây viêm, bao gồm cả các enzim lypoxygenase và Cyclooxygenase-2 (Cox-2), ức chế sản xuất các Prostaglandin và các chất trung gian gây viêm gây ra quá trình viêm và sưng đau ở các khớp tương đương với cortisone, phenybutaron…

Bệnh gan mật: Curcumin thúc đẩy sự hình thành của các enzyme giải độc gan, trong đó đặc biệt có gluthianone S-transferase, ức chế các gốc tự do, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa sự hình thành của các chất hóa học gây viêm (COX-2) nên làm giảm tình trạng viêm gan. Curcumin làm giảm xơ gan thông qua quá trình làm lành các vết sẹo và tổn thương gan. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Curcumin có thể ức chế sự sao chép của virus viêm gan A, B, C.

Bệnh tiểu đường: Curcumin có khả năng ngăn ngừa tiểu đường tuýp 2 nhờ tăng cường nồng độ insulin Một nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Diabetes Care (chăm sóc bệnh nhân tiểu đường) cuối năm 2012 tiến hành thử nhiệm tác dụng của curcumin trên 240 bệnh nhân tiền tiểu đường, sau 9 tháng điều trị, 16.4% bệnh nhân trong nhóm chỉ dùng thuốc điều trị tiểu đường được chẩn đoán tiểu đường tuýp 2, trong khi không có bênh nhân nào được chẩn đoán tiểu đường tuýp 2 trong nhóm phối hợp curcumin với thuốc trong điều trị.

Bệnh tim mạch: Curcumin ngăn ngừa tình trạng phì đại cơ tim, ngăn cản quá trình chết theo chương trình của tế bào cơ tim, chuyển hóa và phân hủy lượng mỡ dư thừa trong cơ thể, nhờ đó hỗ trợ điều trị các hội chứng béo phì, mỡ máu, xơ vữa động mạch. Curcumin dọn sạch các gốc tự do và ức chế các chất tiền viêm như COX – 2, ngăn chặn tổn thương thành mạch, ngăn chặn tích tụ mảng bám xơ vữa động mạch. Gần đây, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Pharmacology của Mỹ cho thấy, chiết xuất từ nghệ giúp giảm 65% nguy cơ đau tim ở những người mới trải qua phẫu thuật tim.

Bệnh sa sút trí tuệ (Alhzeimer): Curcumin phá vỡ sự tích tụ các mảng bám amyloid β, ngăn chặn sự hình thành các mảng amyloid đầu tiên. Do đó, làm chậm quá trình suy thoái các nơ ron và các chất dẫn truyền thần kinh nhờ đó mà trí nhớ ở bệnh nhân Alhzeimer của bệnh nhân đã được cải thiện. Giúp giảm thiểu lượng cholesterol trong não, giảm nguy cơ mất trí nhớ ở bệnh nhân Alhzeimer.

 

VI. LIỆU PHÁP HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ TỔNG HỢP, TOÀN DIỆN

Với 4 sản phẩm :Bộ 3 thải độc, Fomula 4, Trà xanh Gold và Curcumin C3 Complex (hoặc Curcumin Novasol) sẽ là giải pháp hỗ trợ điều trị các dạng ung thư máu hiệu quả cao

 

Chúc quí vị đã có sự lựa chọn đúng đắn cho mình.

Liên hệ tư vấn: 0983.93.66.98  -   0944.58.56.99

 

* Bao bì sản phẩm thực tế và các tài liệu có thể chứa nhiều hơn và khác nhau thông tin hơn so với những gì được hiển thị trên trang web của chúng tôi. Chúng tôi khuyên bạn không nên chỉ dựa vào những thông tin được trình bày và rằng bạn luôn luôn đọc nhãn hiệu, cảnh báo và hướng dẫn trước khi sử dụng hoặc tiêu thụ sản phẩm. Tác dụng có thể khác nhau tùy cơ địa của người dùng.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. GS.TS Nguyễn Bá Đức, Nguyên giám đốc bệnh viện K: "Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư", Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013.
  2. Tác phẩm “Sự trung thực của xác chết” Tiến sĩ Walloc người Mỹ.
  3. Tài liệu về ANCAN do GS.TSKH Hoàng Tích Huyền, nguyên Giảng viên Đại học Y - Dược Hà Nội, chủ biên.
  4. Tài liệu “Sản phẩm thế kỷ 21” của Công ty Vision International phát hành do các Viện sĩ, tiến sĩ, giáo sư Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên Liên bang Nga, Viện dinh dưỡng - Viện Hàn lâm Y học LB Nga biên soạn.
  5. Tiến sĩ, lương y Ngô Đức Vượng: "Minh triết trong ăn uống của phương Đông", Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2010.
  6. http://trisosu.com               Trang web chính thức của Công ty Triso.
  7. http://procell.vn                 (tác dụng của Selenium)
  8. http://emuglucan.vn           (tác dụng của Beta Glucan)
  9. http://cumargold.vn           (tác dụng của Curcumin)
  10. http://thucduong.vn           (tác dụng của PP thực dưỡng)
  11. http://prosure.com.vn        (tác dụng của EPA - Omega 3)
  12. http://fucoidan.com.vn      (tác dụng của Fucoidan)
  13. http://tusachphathoc.com  (nghe Kinh Dược Sư và kinh khác, thực hành thiền định theo cuốn sách Thiền định thiết thực)
  14. http://drsircus.com     (trang tiếng Anh điều trị ung thư bằng NaHCO3)
  15. Cuốn sách Cancer free (Thoát khỏi ung thư), tác giả Bill Henderson và Bác sĩ Carlos M. Garcia, Nxb Lao động, Cty CP Sách Thái Hà, 2014.

TAGS :